Vì sao phải phân biệt chiêng Mường với hồ sơ UNESCO Tây Nguyên?
Hồ sơ UNESCO mang tên Không gian văn hóa cồng chiêng mô tả di sản của các cộng đồng ở Tây Nguyên, được tuyên dương năm 2005 và đưa vào Danh sách đại diện năm 2008. Phạm vi đó không phải một danh hiệu bao trùm mọi truyền thống cồng chiêng ở Việt Nam. Vì vậy, không nên giới thiệu cồng chiêng Mường như một bộ phận đã được ghi danh trong chính hồ sơ này, dù cùng sử dụng nhạc cụ được gọi là cồng chiêng.
Phân biệt hồ sơ giúp người nghe tìm đúng câu chuyện, chứ không xếp hạng giá trị văn hóa. Tư liệu người Mường của Bộ Dân tộc và Tôn giáo đặt cồng chiêng bên cạnh nhiều nhạc cụ, dân ca và lễ ca khác. Khi đọc lời quảng bá, nên kiểm tra tên di sản đầy đủ, cộng đồng và không gian được nói đến.
Một bộ chiêng Mường có bao nhiêu chiếc?
Phóng sự VOV5 năm 2014 về đời sống Mường mô tả bộ mười hai chiếc, chia thành ba nhóm gọi là chiêng dàm, chiêng bồng và chiêng tlé. Những tên gọi này giúp hình dung các thành phần trong bộ chiêng. Bài báo không cung cấp cao độ hay ký âm từng bè, nên từ đó chưa thể xác định một thang âm hoặc sơ đồ phối khí cố định.
Cũng chính phóng sự ghi nhận tại Phú Vinh, Tân Lạc có gia đình giữ một vài chiếc và gia đình giữ đủ bộ. Bộ chiêng được mô tả và số chiêng một nhà sở hữu là hai điều khác nhau. Hãy hỏi người giữ chiêng về cách tập hợp, tên gọi và cách dùng tại chỗ; con số mười hai trong tư liệu không nên thành yêu cầu cho mọi cuộc diễn tấu.
Tiếng chiêng xuất hiện trong những hoàn cảnh nào?
VOV5 nêu những dịp như mừng nhà mới, thành hôn và Khai hạ, gắn với xuống đồng. Hồ sơ cộng đồng của Bộ còn ghi nhận tiếng chiêng trong tang lễ. Đặt các ví dụ cạnh nhau sẽ thấy không thể nghe mọi tiếng chiêng như một lời mời vui chơi. Cùng một loại nhạc cụ có thể tham gia những sinh hoạt với tâm thế khác nhau; ý nghĩa cần được hiểu từ hoàn cảnh, không chỉ từ độ vang hoặc quy mô đội chiêng.
Phóng sự nêu các bài Đi đường, Poỏng ba, Poỏng sáu và Poỏng chín trong lễ hội ở Mường Bi. Đây là tên bài gắn với tư liệu địa phương, không phải danh mục bắt buộc của mọi đội chiêng Mường. Khi nghe giới thiệu, hãy hỏi tên bài, dịp thường dùng và phần được chọn cho hôm ấy. Tên bài riêng giúp ghi nhớ cụ thể hơn nhãn chung âm nhạc lễ hội.
Ai diễn tấu, ai giữ chiêng và ai truyền dạy?
Phóng sự năm 2014 nhấn mạnh vai trò nữ giới trong diễn tấu chiêng Mường. Có thể ghi nhận vai trò nổi bật ấy mà không biến thành quy định rằng mọi người đánh chiêng đều phải là nữ. Tương tự, không nên dùng bài báo để kết luận nam giới là người chơi duy nhất ở Tây Nguyên: chính hồ sơ UNESCO mô tả các đội chiêng gồm nam hoặc nữ tùy cộng đồng. So sánh cần giữ những khác biệt địa phương này.
Tại Phú Vinh, bài báo kể việc các gia đình giữ chiêng qua thế hệ và hoạt động dạy lớp trẻ. Nhìn từ đó, truyền thống còn nằm ở người biết sử dụng, ký ức gia đình và việc tiếp tục học. Một màn trình diễn cho khách có thể là điểm gặp gỡ với người giữ nghề, nhưng không thay thế toàn bộ sinh hoạt cộng đồng.
Khách đến nghe chiêng nên hỏi và lưu ý gì?
Trước khi đến, hãy hỏi nơi đón khách có giới thiệu chiêng hay không, ai thực hiện và đó là giao lưu, tập luyện hay sinh hoạt khác. Các dịp báo chí nêu không phải lịch hội cho chuyến đi hiện tại. Nếu gặp tang lễ hoặc sinh hoạt gia đình, hãy theo hướng dẫn của chủ nhà; tiếng chiêng không có nghĩa khách có thể vào xem.
Trong buổi được mời tham dự, nên nghe phần giới thiệu tên bài và bộ chiêng trước khi xin thử. Không tự lấy dùi, thay đổi chỗ treo hoặc gõ nhạc cụ đang trưng bày; hãy hỏi người phụ trách có phần hướng dẫn phù hợp hay không. Xin phép riêng nếu muốn ghi hình và chia sẻ bản ghi. Khi kể lại chuyến đi, ghi đúng địa điểm, người giới thiệu và hoàn cảnh giúp giữ câu chuyện chiêng Mường cụ thể, tránh gắn nhầm nhãn UNESCO Tây Nguyên.
