Sắc dệt trong ngày thường và ngày hội
Trang phục dệt truyền thống Ba Na thường lấy nền đen hoặc chàm đen, phối những dải hoa văn đỏ, trắng, vàng. Tư liệu về Gia Lai phân biệt đồ thường ngày ít trang trí với đồ lễ hội, cưới hỏi nhiều họa tiết hơn. Phụ nữ mặc áo và váy; nam có khố, áo và khăn tùy dịp. Riêng ở Xí Thoại, Phú Yên, nghệ nhân giới thiệu áo nữ dài tay và phụ kiện kết hạt cây Ca liếc. Chi tiết địa phương ấy giúp người xem hiểu rằng một bộ trang phục không đại diện hết mọi làng Ba Na.
Nhà ở và mái nhà rông của làng
Nhà sàn là không gian cư trú truyền thống của gia đình Ba Na, còn nhà rông đảm nhiệm sinh hoạt chung của làng. Hai chức năng cần được phân biệt khi nhìn một quần thể kiến trúc. Tư liệu mô tả nhà ở mở cửa phía mái; nhà rông nổi bật với mái cao, là nơi đón khách, gặp gỡ và truyền dạy văn hóa. Những ngôi nhà dài của đại gia đình trước kia đã có sự chuyển đổi sang nhà sàn ba hoặc năm gian cho hộ nhỏ hơn. Quan sát cả nhà ở lẫn công trình chung sẽ cho cái nhìn đầy đủ hơn.
Nhiều bè chiêng, nhiều cách kể chuyện
Âm nhạc Ba Na có nhạc cụ dây, hơi và gõ, cùng dân ca, truyện kể và trường ca. Trong hòa tấu cồng chiêng, mỗi người giữ một phần âm thanh để tạo thành nhiều bè; tiếng trống góp nhịp trong ngày hội. Đàn t’rưng dùng các ống tre, nứa khác kích thước, còn đàn goong có dây và có thể gắn bầu cộng hưởng. Những nhạc cụ này cũng hiện diện trong văn hóa các cộng đồng láng giềng. Cách dùng thay đổi theo dịp: sinh hoạt gia đình, giao duyên hay lễ hội có không gian và lối diễn tấu khác nhau.
Hạt gạo và bữa ăn đón khách
Cơm gạo tẻ là nền tảng bữa ăn thường ngày được tư liệu giới thiệu về người Ba Na ghi nhận. Hạt gạo gắn với nhiều cách canh tác: lúa rẫy, ruộng khô ven sông suối và ruộng nước phát triển ở một số nơi. Trong dịp lễ hoặc khi tiếp khách quý, rượu cần có thể xuất hiện như một phần cuộc gặp gỡ. Đây là thức uống chung của nhiều cộng đồng Tây Nguyên, không phải dấu hiệu riêng để nhận diện dân tộc. Khi tìm hiểu ẩm thực, nên hỏi chủ nhà về gạo, mùa vụ và bữa ăn cụ thể của gia đình.
Nghề thủ công nối các thế hệ
Gùi đan với nhiều cỡ và kiểu mắt đan phục vụ việc mang đồ, thu hoạch và sinh hoạt trong làng Ba Na. Dệt vải cũng là một con đường truyền tri thức giữa các thế hệ. Tại Xí Thoại, nghệ nhân kể việc học từ bà, mẹ rồi hướng dẫn lại con cháu; nhà rông trở thành nơi cùng làm nghề sau giờ lao động. Những sản phẩm ấy có giá trị sử dụng bên cạnh giá trị thẩm mỹ. Một chuyến thăm tìm hiểu cách chọn sợi, phối màu hoặc đan nan sẽ làm rõ công sức người làm, thay vì chỉ nhìn thành phẩm.

